Trung tâm Tiết kiệm năng lượng Nghệ An

Ngày 02/8/2018, tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ V đã diễn ra, với mục tiêu tăng cường hợp tác, hội nhập, phát triển, thống nhất các giải pháp thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ ngành Công Thương năm 2018.

Khu vực phía Bắc gồm 28 tỉnh, thành phố; phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Tổng diện tích tự nhiên của toàn khu vực là 150.069,4 km2, chiếm 45,31% diện tích tự nhiên của cả nước; tổng dân số 41,01 triệu người, chiếm 44,25% dân số cả nước, mật độ dân số trung bình 273 người/km2. Khu vực phía Bắc có vị trí địa lý hết sức quan trọng, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, địa hình đa đang, tài nguyên thiên nhiên phong phú. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy phát triển khá đồng bộ và tiếp tục được đầu tư, nâng cấp phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế.
Được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Chính phủ, Bộ Công Thương, Thành uỷ/ Tỉnh uỷ, HĐND, UBND 28 tỉnh, thành phố; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và sự chủ động, nỗ lực cố gắng của các đơn vị, doanh nghiệp nên hoạt động công nghiệp, thương mại khu vực phía Bắc đã đạt được những kết quả đáng kể trong năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018.
Năm 2017, sản xuất công nghiệp (SXCN) trong khu vực tiếp tục tăng trưởng ấn tượng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của toàn nền kinh tế. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh năm 2010) đạt 3.397,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3%  so với năm 2016, trong đó, một số địa phương có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp trong khu vực:
Vùng đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ: Hà Tĩnh 89,9%; Bắc Ninh 38,4%; Thái Bình 38,1%; Nghệ An 25,2%; Ninh Bình 25,1%; Hải Phòng 21,8%; Thái Nguyên 19,7%; Hòa Bình 17,9%,…
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ: Cao Bằng 81,1%; Bắc Giang 55,9%; Lai Châu 26,1%; Lào Cai 21,9%; Hà Giang 19,8%,…
Năm 2017, hầu hết các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của khu vực tăng trưởng khá so với năm 2016: Quặng 6.850 nghìn tấn, tăng 47,2%; phân bón tăng 43,2%; sắt thép, gang 10.395 nghìn tấn, tăng 38,92%; thiết bị điện tử 1559,7 triệu sản phẩm, 31,4 18%;  quần áo các loại 60.268 triệu sản phẩm, tăng 16%; điện sản xuất 888.482 triệu Kwh, tăng 15%; than sạch 99.484 nghìn tấn, tăng 10%;…
6 tháng đầu năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp (GSS 2010) của khu vực ước đạt 1.772,4 nghìn tỷ đồng, đạt 47,93% so với kế hoạch, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,7%; Công nghiệp khai khoáng tăng 2,6%. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của khu vực dự ước sản lượng tăng cao so với cùng kỳ 2017, trong đó: Sắt thép, gang ước đạt 6,6 triệu tấn, tăng 36,8%; đường tinh luyện 210 nghìn tấn, tăng 26,2%; quần áo may mặc 34.308 triệu sp, tăng 20,6%; điện sản xuất 45.821 triệu kWh, tăng 11,5%; thiết bị điện tử 760,59 triệu sản phẩm, tăng 10,9%; than sạch 53,21 triệu tấn, tăng 10,4%; xi măng ước đạt 11,35 triệu tấn, tăng 6,5%…

Năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của 28 tỉnh, thành phố đạt 105,2 tỷ USD, tăng 23,6% so với năm 2016, chiếm 49,2%/tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Một số địa phương tăng trưởng xuất khẩu cao so với năm 2016: Hà Tĩnh 95,2%; Lào Cai 72,7%, Bắc Giang 70%; Hòa Bình 39,7%; Hà Nam 39,3%; Yên Bái 35,7%; Cao Bằng 32,9%; Lai Châu 32,9%, Bắc Ninh 30,7%…
Các địa phương đạt kim ngạch xuất khẩu ở mức cao (trên 10 tỷ USD), chiếm tỷ trọng cao/ toàn khu vực: Bắc Ninh 29,8 tỷ, chiếm 28,37%; Thái Nguyên 22,9 tỷ, chiếm 21,83%; Hà Nội 11,7 tỷ, chiếm 11,19%…
Kim ngạch nhập khẩu đạt 112,9 tỷ USD, tăng 27,7% so với năm 2016, chiếm 53,48%/ tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Địa phương có giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn, chiếm tỷ trọng cao/toàn khu vực: Hà Nội 29,8 tỷ, chiếm 26,42%; Bắc Ninh 29,5 tỷ USD, chiếm 26,13%; Thái Nguyên 13,9 tỷ, chiếm 12,4%; Hải Phòng 6,6 tỷ USD, chiếm 5,8%…
6 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ khu vực phía Bắc ước đạt 709,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: 5/28 tỉnh, thành phố có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng trên 15% so với cùng kỳ: Điện Biên 22,4%; Hòa Bình 20,1%; Quảng Ninh 18,6%; Lai Châu 18,6%; Hà Nam 15,2%…
Một số địa phương chiếm tỷ trọng cao/toàn khu vực: Hà Nội 236,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,28%; Hải Phòng 57 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,3%; Thanh Hóa 45,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,47%; Quảng Ninh 42,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 6%…
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng/2018 ước đạt 58,9 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm 51,69%/ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Có 23/28 địa phương xuất khẩu tăng trưởng; trong đó một số tỉnh có tốc độ tăng cao: Lai Châu 205,5%; Hà Tĩnh 153,1%; Lào Cai 151,8%; Điện Biên 96,5%; Bắc Ninh 40,6%; Hòa Bình 31%… Địa phương chiếm tỷ trọng cao/ toàn khu vực: Bắc Ninh 28,5%; Thái Nguyên 22,1%; Hà Nội 10,4%; Hải Phòng 6,6%…
Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 56,89 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 51,06%/ tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.  Mặt hàng nhập khẩu: Nông, lâm, thủy sản, nhiên liệu, khoáng sản; nguyên phụ liệu, thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu cho sản xuất công nghiệp.
Hạ tầng thương mại được quan tâm thu hút đầu tư phát triển và từng bước hoàn thiện, góp phần thay đổi diện mạo đô thị, khu vực nông thôn, miền núi. Các loại hình thương mại văn minh hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, hệ thống cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi theo mô hình hiện đại phát triển đã từng bước làm thay đổi nhận thức và thói quen mua sắm của người dân. Phần lớn các chợ truyền thống đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp hàng năm, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, mua bán và trao đổi hàng hóa của dân cư.
Theo số liệu tổng hợp từ các tỉnh, thành phố trong khu vực, tổng số chợ tới thời điểm hiện nay là 4.150, trong đó có 16 chợ đầu mối. Chia theo hạng chợ: 102 chợ hạng I, 357 chợ hạng II, 3.390 chợ hạng III và 301 chợ chưa phân hạng.
Năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 đã đầu tư xây dựng mới được 55 chợ, cải tạo nâng cấp 81 chợ với tổng vốn đầu tư 2.217 tỷ đồng, trong đó: Vốn Trung ương 31 tỷ đồng, vốn địa phương 116 tỷ đồng, vốn do doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh 413 tỷ đồng và vốn khác là 1.656 tỷ đồng.
Công tác thực hiện CTMTQG về xây dựng nông thôn mới (tiêu chí số 4 về điện nông thôn và TC số 7 về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn) được quan tâm chỉ dạo thực hiện:
Tính đến hết tháng 6/2018 toàn khu vực có 4.417/5.041 xã đạt tiêu chí điện nông thôn (đạt 81,78%); có 7/28 tỉnh, thành đạt tiêu chí số 4: Hà Nội, Hòa Bình; Bắc Ninh; Nam Định; Hải Phòng; Thái Bình và Vĩnh Phúc. Dự kiến đến hết năm 2018 toàn vùng phấn đấu có 4.583/5401 xã đạt tiêu chí số 4. Có 3.840/5.401 xã đạt tiêu chí cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (đạt 71,1%). Nổi bật 100% số xã tại Hải Phòng đã đạt tiêu chí số 7 và số 4. Dự kiến đến hết năm 2018 toàn vùng phấn đấu có 4.034/5.401 xã đạt tiêu chí số 7.
Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành đã được Sở Công Thương các tỉnh, thành phố tập trung xây dựng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghiệp – thương mại phù hợp, thống nhất với quy hoạch tổng thể của địa phương. Các quy hoạch đã góp phần quan trọng trong việc định hướng phát triển ngành Công Thương khu vực phía Bắc cũng như quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các tỉnh, thành phố; chủ động tham mưu xây dựng và triển khai thực hiện tốt các chương trình, đề án, cơ chế chính sách phát triển ngành Công Thương phục vụ nhu cầu phát triển và phù hợp với đặc thù của từng địa phương.
Sở Công Thương các tỉnh, thành phố thực hiện tốt công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch khảo sát, nắm bắt tình hình đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để kịp thời tham mưu cho các cấp có thẩm quyền và phối hợp với các đơn vị liên quan tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp duy trì và đẩy mạnh sản xuất, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án sản xuất công nghiệp, các dự án xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp. Tích cực triển khai thực hiện Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý phát triển CCN và Thông tư số 15/2017/TT-BCT ngày 31/8/2017 của Bộ Công Thương quy định, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 68; phối hợp điều tra về năng lực sản xuất và năng lực mới tăng của một số sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố; đồng thời rà soát, cập nhật và đề xuất, bổ sung danh mục hàng hoá trong nước đã sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp.
Phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và triển khai đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, cải tiến mẫu mã, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018, số sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu đăng ký tham gia bình chọn:  1.208 sản phẩm (cấp tỉnh 740 sản phẩm; cấp huyện 467 sản phẩm). Trong đó, được cấp giấy chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh 310 sản phẩm; cấp huyện 98 sản phẩm.
Công tác quản lý năng lượng được quan tâm và triển khai có hiệu quả: Tiếp tục triển khai Thông tư số 33/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định một số nội dung về rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng, Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Kiểm tra đôn đốc các công ty Điện lực địa phương đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng. Phối hợp với các đơn vị quản lý và vận hành lưới điện cao áp trên địa bàn kiểm tra xử lý các vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp. Triển khai thực hiện tốt công tác phối hợp, tổ chức chiến dịch Giờ Trái Đất năm 2017, 2018; công tác tuyên truyền phổ biến thông tin, phát động phong trào hộ gia đình tiết kiệm điện, tiết kiệm năng lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng;
Tăng cường công tác kiểm tra việc đầu tư xây dựng, vận hành các công trình thủy điện, nhiệt điện. Rà soát các dự án, công trình chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chậm tiến độ, ảnh hưởng lớn tới dân sinh, môi trường, đất sản xuất và công tác di dân tái định cư. Tập trung tham mưu cho UBND tỉnh/ thành phố tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công, bảo đảm chất lượng các công trình.
Công tác phát triển điện nông thôn cũng được Sở Công Thương các tỉnh, thành phố tích cực triển khai thông qua các chương trình, đề án, dự án cải tạo nâng cấp lưới điện hạ áp nông thôn. Phối hợp với các cấp, ngành kiểm tra các tổ chức quản lý điện nông thôn (ngoài ngành điện). Thực hiện việc bàn giao vốn và tài sản lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành điện trực tiếp quản lý để đầu tư, cải tạo nâng cấp lưới điện đạt tiêu chí nông thôn mới. Hiện một số địa phương đã cơ bản hoàn thành bàn giao lưới điện hạ áp nông thôn như Ninh Bình, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Tĩnh…
Tiển khai thực hiện tốt các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia về An toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ năm 2017, 2018. Tổ chức kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng có nguy cơ cháy nổ cao, yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh thường xuyên đảm bảo an toàn phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường.
Triển khai thực hiện kịp thời Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh lĩnh vực công thương; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, an toàn hoá chất, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường…; thực hiện quản lý, thẩm tra và cấp giấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; thẩm tra, cấp giấy xác nhận biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hoá chất cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố; thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm; kiểm tra về an toàn đập các công trình thuỷ điện và tham gia góp ý đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư và dự án cải tạo phục hồi môi trường. Thực hiện tốt giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường và dịp Tết Nguyên đán; các giải pháp chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương về các biện pháp bình ổn thị trường; chỉ đạo thương nhân kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh thực hiện lộ trình xăng sinh học E5 Ron 92; công tác quản lý chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, xây dựng mô hình mẫu chợ vệ sinh an toàn, kế hoạch phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện lợi, xóa dần tình trạng chợ tự phát; quản lý thương mại về hàng hóa dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; các chương trình thực hiện Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tổ chức thực hiện Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc… được chú trọng  triển khai thực hiện
Công tác phát triển thị trường xuất khẩu được tiếp tục đẩy mạnh, tập trung nâng cao kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường đã có, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức tiêu thụ lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật…), các thị trường mới ký kết các hiệp định song phương và đa phương với nước ta trong thời gian qua (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định FTA với Liên minh Châu Âu…); thông tin, phổ biến, hướng dẫn các doanh nghiệp nắm bắt và thực hiện các văn bản pháp luật mới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; thực hiện nhiệm vụ cấp C/O cho các doanh nghiệp theo ủy quyền của Bộ Công Thương.
Các Sở Công Thương tỉnh/ thành phố đã thực hiện tốt vai trò cơ quan thường trực, đầu mối Ban Chỉ đạo Hội nhập quốc tế tỉnh, phối hợp cùng các sở, ngành, địa phương tích cực tham gia các sự kiện của tỉnh, thành phố làm tốt công tác hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng. Thường xuyên cập nhật và phổ biến đến các doanh nghiệp các cơ chế chính sách của các Hiệp định FTA mà Việt Nam đã tham gia; tổ chức các hội thảo/tập huấn phổ biến về các rào cản kỹ thuật trong thương mại TBT; phổ biến các Hiệp định thương mại tự do FTA. Cấp mới, điều chỉnh, cấp lại Giấy phép thành lập văn phòng đại diện cho thương nhân nước ngoài tại địa phương.
Hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu đã được đẩy mạnh triển khai theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; linh hoạt hình thức tổ chức, giới thiệu đa dạng ngành hàng, dịch vụ sản phẩm đặc trưng, có lợi thế của từng địa phương, để phát triển đồng thời thị trường trong và ngoài nước. Duy trì việc cung cấp thông tin về môi trường, chính sách, cơ hội đầu tư sản xuất – kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại thông qua Cổng thông tin điện tử, website thương mại điện tử, các ấn phẩm của các Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trong khu vực. Hỗ trợ các doanh nghiệp, đơn vị, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp trong việc ứng dụng thương mại điện tử; phát triển quảng bá thương hiệu, tiếp cận thông tin, tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm…
Sở Công Thương các tỉnh, thành phố đã thực hiện tốt nhiệm vụ cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 389 tỉnh/ thành phố, tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường, không xẩy ra các vấn đề phức tạp lớn trên thị trường.
Năm 2017, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 88.968 vụ, xử lý 88.335 vụ vi phạm với tổng số tiền phạt thu trên 275,3 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2018, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 43.003 vụ, xử lý 30.202 vụ vi phạm với tổng số tiền phạt thu 81,6 tỷ đồng.
Hoạt động kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện  quy định của pháp luật về hoạt động trong lĩnh vực công thương được duy trì thường xuyên, đồng thời tăng cường công tác truyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật thông qua các chương trình tập huấn; các chương trình truyền hình chuyên đề Công Thương, chuyên đề Quản lý thị trường… chú trọng thực hiện các giải pháp phòng chống tham nhũng, công khai minh bạch trong các hoạt động; công tác tiếp dân được quan tâm, duy trì thường xuyên; các đơn thư khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền được giải quyết nhanh, dứt điểm, không xảy ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, vượt cấp.
Công tác cải hành hành chính được Sỏ Công Thương các tỉnh/ thành phố chú trọng chỉ đạo: Tập trung rà soát, tham mưu nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian và chi phí thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường. Đến nay, 100% các Sở Công Thương trong khu vực đã triển khai cơ chế một cửa/ một cửa liên thông. Tăng cường thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống điều hành tác nghiệp điện tử trong công tác, thực hiện nhiệm vụ nhằm hỗ trợ, phục vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước. Kịp thời phổ biến, tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành: Luật Quản lý ngoại thương, Luật cạnh tranh (sửa đổi) các nghị định, thông tư, văn bản chính sách về lĩnh vực công thương; thực hiện rà soát, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để đổi mới và nâng cao chất lượng tham mưu; thực hiện rà soát vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế của ngành từng bước tinh gọn và nâng cao chất lượng, hiệu quả  hoạt động của các phòng, ban đơn vị trực thuộc Sở Công Thương.
Công tác liên kết, hợp tác phát triển công thương trong khu vực là một trong những hoạt động quan trọng và mang tính định hướng chiến lược, nhằm khai thác phát huy hiệu quả những tiềm năng lợi thế của các địa phương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và theo hướng bền vững, trong đó tập trung thực hiện một số nội dung cụ thể:
Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai chương trình liên kết, hợp tác  phát triển công thương giữa các tỉnh, thành phố; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, quảng bá thương hiệu, sản phẩm tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển hệ thống phân phối hàng hóa.
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, hợp tác vận động xúc tiến đầu tư; kinh nghiệm giải quyết khó khăn cho các dự án công nghiệp; cung cấp thông tin về năng lực các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn; cơ chế phối hợp với Ban Quản lý khu/cụm công nghiệp; công các xây dựng, triển khai quy hoạch, đề án phát triển lĩnh vực công nghiệp, thương mại; thực hiện các đề án khuyến công,…
Tổ chức các chuyến học tập trao đổi kinh nghiệm trong công tác tham mưu, thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp, kêu gọi, thu hút đầu tư
Nắm bắt, theo dõi, trao đổi thông tin, tình hình các doanh nghiệp, cá nhân vận chuyển và kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng,… Phối hợp, theo dõi, tham gia xử lý vi phạm, hỗ trợ công tác điều tra, xác minh, góp phần ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng cấm; vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, sở hữu trí tuệ… để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường
Năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo sát sao, có hiệu quả của Bộ Công Thương và Thành uỷ/Tỉnh uỷ, HĐND, UBND 28 tỉnh, thành phố, sự phối hợp tích cực giữa các Sở, ngành, địa phương; tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành đoàn kết, nhất trí cao và đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp đã nỗ lực, chủ động trong sản xuất kinh doanh nên hoạt động công thương thời gian qua đã đạt được những kết quả  đáng khích lệ:
Thực hiện đảm bảo nội dung, tiến độ kế hoạch trên tất cả các lĩnh vực nhiệm vụ được giao. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá (năm 2017 tăng 20,3% so với năm 2016, 6 tháng đầu năm 2018 tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2017); kim ngạch xuất khẩu tiếp tục duy trì tăng trưởng khá (năm 2017 tăng 23,6 % so với năm 2016, 6 tháng đầu năm 2018 tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2017); chuyển dịch cơ cấu cơ cấu ngày càng rõ nét theo hướng phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, nhiều sản phẩm đã dần có chỗ đứng và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ… Cơ cấu thị trường xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần xuất khẩu sang thị trường Châu Âu và Châu Mỹ.
Thương mại nội địa nhìn chung ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, cung – cầu hàng hoá thiết yếu được đảm bảo, nguồn cung hàng hoá dồi dào, giá cả cơ bản ổn định ở phần lớn các nhóm hàng. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ năm 2017 tăng 13,2% so với năm 2016; 6 tháng đầu năm 2018 tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2017.
Công tác quản lý nhà nước về công thương đã được tăng cường và triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực; thực hiện tốt công tác tham mưu xây dựng, bổ sung, thưc hiện các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án lĩnh vực công thương; hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đưa hàng hóa về nông thôn, vùng biên giới, hải đảo được chú trọng; thương mại điện tử phát triển; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phòng chống buôn lậu, hàng cấm và gian lận thương mại được phối hợp triển khai tích cực, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm an sinh xã hội và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đúng hướng nhưng còn chậm và chưa bền vững, sản xuất công nghiệp vẫn chưa tham gia được nhiều vào chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt các ngành: Dệt may, da giày… cơ bản  mới chỉ tham gia khâu gia công nên giá trị gia tăng thấp, nguyên liệu đầu vào chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu nên nguồn cung – cầu thiếu ổn định. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá nhưng chủ yếu về bề rộng. Trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp đã được quan tâm phát triển nhưng tốc độ đổi mới sáng tạo, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn thấp. Tiến độ đầu tư vào các cụm công nghiệp của một số tỉnh, thành phố còn chậm, thu hút đầu tư mới còn khó khăn, một số dự án đầu tư vào khu, cụm công nghiệp, đã được cấp giấy phép đầu tư nhưng triển khai hoặc đã khởi công xây dựng nhưng chưa đi vào hoạt động. Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Công nghiệp chế biến nông sản chưa phát triển mạnh; công nghệ sản xuất uy có nhiều đổi mới nhưng còn chậm, kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm được cải tiến chưa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa duy trì tăng trưởng nhưng không cao, sức mua trên thị trường đã được cải thiện nhưng thiếu số liệu tính toán đầy đủ (chưa bao gồm các hoạt động mua bán qua mạng internet, điện thoại, online … tự phát)  nên chưa thể phản ánh hết quy mô thị trường và mức tăng trương chưa đạt so với kỳ vọng. Cung cầu hàng hóa tuy được bảo đảm nhưng thiếu tính bền vững, sự liên kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng hàng hóa (nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà vận chuyển và người tiêu dùng) còn hạn chế.
Hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển nhưng xét về tổng thể chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, đặc biệt ở các tỉnh còn khó khăn;  công tác quản lý chợ còn nhiều bất cập; hoạt động quản lý, khai thác, kinh doanh hệ thống chợ nông thôn đạt hiệu quả chưa cao.
Công tác xây dựng, quản lý, thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa gắn với nhu cầu của thị trường; quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu và sản xuất, chế biến còn nhiều hạn chế.
Mặt hàng xuất khẩu chưa phong phú, đa dạng, khả năng cạnh tranh thấp, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu chế biến thô, gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp;
Công tác bình ổn giá cả hàng hóa thị trường đã được chủ động triển khai thực hiện và đem lại hiệu quả thiết thực, nhưng phụ thuộc vào nguồn ngân sách hỗ trợ nên mặt hàng và các điểm thực hiện bình ổn giá còn ít;
Công tác kiểm soát thị trường tuy đã được tăng cường nhưng tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại trên thị trường chưa được ngăn chặn và xử lý một cách cơ bản, triệt để. Công tác nắm bắt, đánh giá tình hình, diễn biến các yếu tố tiêu cực tiềm ẩn để có biện pháp phòng ngừa còn hạn chế; thương mại điện tử phát triển góp phần đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh, nhưng tư cách pháp nhân, chất lượng hàng hóa kinh doanh qua mạng chưa được kiểm soát chặt chẽ;
Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của ngành. Công tác thông tin dự báo, cảnh báo các tác động và nguy cơ của những yếu tố bên ngoài về tình hình kinh tế trong và ngoài nước đến các doanh nghiệp còn chưa đầy đủ, kịp thời;
Để khắc phục, từng bước giải quyết những tồn tại hạn chế, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời gian tới, Hội nghị tập trung thảo luận và xác định các mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm cần tập trung thực hiện trong thời gian tới:
1. Thực hiện hiện hoàn thành, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch còn lại 6 tháng cuối năm:
Giá trị sản xuất công nghiệp (GSS 2010)  2.103 nghìn tỷ đồng, để cả năm 2018 đạt 3.876 ngàn tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm 2017.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng phấn đấu đạt 881 ngàn tỷ đồng, để cả năm đạt 1.591 ngàn tỷ đồng, tăng 10,7% so với năm 2017.
Kim ngạch xuất khẩu phấn đấu đạt 60 tỷ USD, để cả năm đạt 119 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2017;
Kim ngạch nhập khẩu phấn đấu đạt 57 tỷ USD, để cả năm đạt 110 tỷ USD, giảm 2,8% so với năm 2017.
2. Tập trung chỉ đạo thực nhiệm nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu, trong đó:
– Tiếp tuc tăng cường chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo; tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh,… theo chỉ đạo của Chính phủ; thực hiện các chương trình, đề án, nhiệm vụ cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh/ thành phố, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp, thương mại của địa phương
– Chú trọng công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm phát huy tối đa các nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển lĩnh vực công nghiệp, thương mại;
– Đẩy mạnh kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp theo chiều sâu, các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng và tỷ trọng giá trị nội địa cao, sử dụng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường;
– Khai thác tối đa năng lực sản xuất và nhu cầu thị trường để đáp ứng các sản phẩm phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách khuyến khích hỗ trợ của Nhà nước để thúc đẩy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – làng nghề. Chú trọng phát triển công nghiệp chủ đạo, công nghiệp tập trung, quan tâm hỗ trợ các làng nghề có sản phẩm tiêu thụ lớn trên thị trường, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở địa bàn nông thôn;
– Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng thương mại và hệ thống phân phối hàng hóa. Xây dựng danh mục và khuyến khích thu hút đầu tư các dự án trọng điểm phát triển hạ tầng thương mại;
– Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, củng cố, phát triển thị trường xuất khẩu truyền thống và khai thác thị trường xuất khẩu mới, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm; Khuyến khích đầu tư kho bãi hàng hóa, logicstics;  khai thác hiệu quả khu thương mại – công nghiệp và hình thành khu hợp tác qua biên giới. Tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu, buôn bán biên giới, duy trì và quản lý tốt hoạt động tại cửa khẩu phụ, lối mở;
– Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014-2020. Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức tốt các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, khu công nghiệp, khu chế xuất, về vùng sâu, vùng xa. Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh;
– Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả, đúng mục đích nguồn kinh phí khuyến công, xúc tiến thương mại. Kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, đề án đã thực hiện rút kinh nghiệm để xây dựng, thực hiện tốt chương trình, kế hoạch những năm tiếp theo;
– Tiếp tục triển khai thực hiệu quả Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về Quản lý, phát triển CCN và các thông tư, văn bản hướng dẫn. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an toàn môi trường tại các khu, cụm công nghiệp; rà soát, đánh giá  lại quy hoạch, tiến độ hiệu quả đầu tư hạ tầng, tỷ lệ lấp đầy của các cụm công nghiệp để đề xuất, tham mưu quy hoạch mới các khu, cụm công nghiệp phù hợp với thực tế của địa phương. Khuyến khích thu hút các nguồn lực đầu tư đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng các cụm công nghiệp;
– Phát huy tối đa nguồn lực, lồng ghép các chương trình nguồn vốn để đầu tư phát triển lưới điện nông thôn, tổ chức quản lý vận hành đảm bảo an toàn cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa… Tuyên truyền, hướng dẫn việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Tiếp tục chỉ đạo công tác đầu tư, hoàn trả vốn sau khi bàn giao lưới điện hạ áp nông thôn. Thường xuyên tổ chức kiểm tra tiến độ, chất lượng thi công của các dự án thủy điện, nhiệt điện, kịp thời thực hiện, tham mưu tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư;
– Tập trung chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (tiêu chí về điện và cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn) tại địa phương. Kịp thời nắm bắt những khó khăn vướng mắc trong xây dựng nông thôn mới để chủ động tham mưu, đề xuất với UBND các tỉnh, thành phố giải quyết, giúp các địa phương hoàn thành tiêu chí theo kế hoạch đăng ký;
– Đẩy mạnh hoạt động liên kết vùng giữa ngành Công Thương các tỉnh, thành phố, trong đó tập trung phối hợp, trao đổi thông tin; xây dựng, triển khai thực hiện quy hoạch, chú trọng hợp tác về đầu tư, liên kết sản xuất, vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp trong khu vực; công tác kiểm tra kiểm soát thị trường; phát triển thị trường tiêu thụ hàng hóa; hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics;
– Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử, phát triển, quảng bá thương hiệu; hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, khuyến khích và hỗ trợ xây dựng các mối quan hệ liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, từng bước tham gia vào sản xuất, cung ứng các sản phẩm trong chuỗi sản phẩm toàn cầu;
– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, đơn gian hóa, công khai minh bạch các thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong ngành Công Thương;
– Phối hợp với các Sở, ban, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến cung cầu hàng hoá, giá cả, thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu; triển khai các chương trình bình ổn thị trường, giảm thiểu tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng. Chủ động thực hiện công tác phòng chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai;
– Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công thương. Chú trọng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường để bảo vệ sản xuất trong nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Hội nghị ngành Công Thương lần thứ V – Nghệ An năm 2018 đã thành công tốt đẹp, để lại những dấu ấn sâu đậm đối với đại biểu đại diện các cấp, ngành và địa phương về tham dự. Hội nghị đã thống nhất, đồng ý để Thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ VI – năm 2019./.

Thanh Liên-TKNL